Bệnh viêm kết mạc cấp

Bac sy Le Viet Son

Kết mạc là một màng niêm mạc mỏng có mạch máu che phủ mặt sau mi mắt và một phần trước củng mạc (phần lòng trắng), có tác dụng giúp cho nhãn cầu chuyển động dễ dàng trong hốc mắt, dinh dưỡng cho giác mạc (phần lòng đen). Do đặc tính tiếp xúc với môi trường bên ngoài nên kết mạc rất dễ bị viêm nhiễm. Bệnh viêm kết mạc cấp, hay còn gọi là bệnh đau mắt đỏ là bệnh lý tại mắt phổ biến. Mặc dù khá lành tính, khi khỏi ít khi để lại di chứng nhưng bệnh rất dễ lây, có thể thành các vụ dịch lớn, nhất là ở những nơi tập trung đông người như trường học, bệnh viện, công sở, bể bơi…Gây ảnh hưởng tới khả năng lao động, học tập và sinh hoạt của cộng đồng dân cư. Bệnh phát triển mạnh vào mùa hè do khí hậu nóng ẩm, nhiều khói bụi và ô nhiễm là yếu tố thuận lợi cho các tác nhân gây bệnh.

1. Tác nhân gây bệnh:

Vi khuẩn: Nhiều loại vi khuẩn có thể gây viêm kết mạc cấp như phế cầu, tụ cầu, liên cầu, lậu cầu, bạch hầu…Ở trẻ sơ sinh có thể bị viêm kết mạc do lậu cầu qua đường sinh dục của người mẹ bị bệnh lậu.

Virut: Gặp nhiều nhất là virut Adeno, ngoài ra còn có virut Entero, virut Herpes… Viêm kết mạc do virut thường lây lan mạnh hơn vi khuẩn. Virut Adeno thường gây ra các vụ dịch lớn (Viêm kết mạc họng hạch) do đặc tính lây qua đường hô hấp và khả năng tồn tại được lâu ở ngoài môi trường của loại virut này (Có thể đến vài ngày).

Ký sinh trùng: Ít gặp hơn

benh viem ket mac cap

2. Triệu chứng bệnh viêm kết mạc:

Sau thời gian ủ bệnh (tính từ khi tiếp xúc với nguồn lây) 2-3 ngày sẽ xuất hiện các dấu hiệu ngứa mắt, cộm, chói, sợ ánh sáng, chảy n­ước mắt và có nhiều rử ghèn ở mắt. Nếu rử ghèn nhiều buổi sáng ngủ dậy làm cho hai mi dính vào nhau nên bệnh nhân rất khó mở mắt. Rử ghèn cũng làm cho người bệnh thấy nhìn khó, vướng nhưng thi lực thường không giảm. Lúc đầu chỉ bị ở 1 bên mắt, sau vài ngày xuất hiện sang mắt còn lại.

Khi khám mắt thấy: mi mắt sưng nề đỏ, kết mạc nhãn cầu cương tụ, phù nề. Nhiều rử ghèn (tiết tố) ở bờ mi và bề mặt kết mạc. Một số trường hợp có thể có xuất huyết (chảy máu) dư­ới kết mạc. Nếu nguyên nhân gây bệnh là liên cầu, phế cầu, bạch hầu…thì kết mạc mi thường có lớp giả mạc che phủ, khi bóc giả mạc tái tạo nhanh. Những trường hợp nặng có thể gây tổn thương giác mạc như viêm giác mạc chấm nông, viêm giác mạc đốm làm cho giác mạc bị mờ đục, khi đó thị lực giảm nhiều và kéo dài dai dẳng hàng tháng. Nếu nguyên nhân là Adenovirus thì người bệnh có thể bị sốt nhẹ, chảy nước mũi, có sưng hạch trước tai hoặc hạch góc hàm, viêm họng, amidan sưng viêm.

viem giac mac dom

3. Điều trị viêm kết mạc:

Người bệnh khi bị viêm kết mạc nên đến các cơ sở nhãn khoa khám để được chẩn đoán và tư vấn phương pháp điều trị thích hợp. Không nên tự ý mua thuốc về nhỏ mắt để tránh gây ra một số biến chứng nguy hiểm. Ngoài ra cũng nên tránh sử dụng các thuốc lá cây để đắp hoặc xông mắt vì không những ít có tác dụng chữa bệnh mà còn có thể gây ra những tổn thương khác cho mắt như bỏng do nhiệt hoặc tinh dầu, một số loài nấm và vi khuẩn ở lá cây có thể xâm nhập qua vết xước giác mạc gây ra một bệnh lý rất nguy hiểm là viêm loét giác mạc. Khi đó việc điều trị sẽ vô cùng khó khăn, tốn kém tiền bạc mà di chứng để lại là sẹo giác mạc gây nhìn mờ vĩnh viễn, một số trường hợp nặng phải khoét bỏ mắt.

Viêm kết mạc cấp hiếm khi phải dùng kháng sinh đường tiêm. Thông thường các bác sĩ chỉ kê kháng sinh nhỏ mắt như Tobrex, Cebemyxin, Oflovid…nhỏ mắt 5 – 7 lần mỗi ngày. Nếu người bệnh có sốt, sưng hạch, viêm mũi họng thì có thể dùng kháng sinh đường uống như Cefixime, Augmentin….Tra rửa mắt bằng nước muối sinh lý Nacl 0,9% nhiều lần là điều rất quan trọng, có tác dụng rửa trôi ghèn rử mắt cùng tác nhân gây bệnh ra ngoài giúp cho mau khỏi bệnh. Thường tra rửa 10 – 15 lần mỗi ngày. Có thể sử dụng nước mắt nhân tạo nhỏ mắt ngày 4 – 6 lần để giảm cảm giác khó chịu. Việc sử dụng thuốc nhỏ mắt có corticoide phải có chỉ định và theo dõi của bác sĩ nhãn khoa trong một số ít trường hợp. Nếu tự ý dùng thuốc có thể làm tình trạng bệnh nặng thêm hoặc gây biến chứng nguy hiểm. Đối với những trường hợp viêm có giả mạc làm cho thuốc ngấm vào kết mạc kém, bác sĩ sẽ chỉ định bóc giả mạc 2 – 3 ngày một lần. Khi người bệnh có sốt, đau nhức có thể dùng thuốc hạ sốt giảm đau như Efferalgan, Paracetamol… Nếu mắt phù nề nhiều thì dùng thêm thuốc giảm phù nề như Alphachymotrypsine.

4. Phòng bệnh viêm kết mạc

Bệnh lây từ người này sang người khác qua nước mắt và rử ghèn có chứa nhiều tác nhân gây bệnh. Người bị viêm kết mạc hay lấy tay dụi mắt, sau đó cầm nắm vào các đồ vật sử dụng chung như tay nắm cửa, cốc, chén, gương, lược, gối, chăn… làm cho người khác khi sử dụng đồ vật đó bị lây. Hoặc có thể lây khi sử dụng chung chậu rửa mặt, khăn mặt. Cũng có thể lây qua môi trường bể bơi tập thể hoặc qua vật trung gian là ruồi. Các phòng khám mắt không tuân thủ nguyên tắc vệ sinh tay và dụng cụ cũng làm lây bệnh từ người này sang người khác. Một số viêm kết mạc do virut còn lây bệnh qua đường hô hấp. Ở người bình thường, nước mắt được dẫn lưu xuống mũi qua hệ thống lệ đạo. Khi viêm kết mạc, nước mắt chứa yếu tố gây bệnh được dẫn lưu xuống mũi họng. Khi người bệnh nói chuyện, hắt hơi dịch mũi họng bắn ra ngoài không khí sẽ gây bệnh cho người khác.

Để phòng tránh bệnh cần lưu ý:

- Người bị viêm kết mạc cần nghỉ học, nghỉ làm, hạn chế đến nhũng nơi đông người để tránh lây cho người khác. Khi ở nhà phải sử dụng đồ vật riêng như chậu rửa mặt, khăn mặt, cốc chén… Không dụi tay lên mắt. Tránh bắt tay, mời nước người khác. Khi cần giao tiếp phải đeo kính, đeo khẩu trang. Rửa tay trước và sau khi tra thuốc. Khi bắt buộc phải sử dụng các đồ vật chung phải rửa tay bằng xà phòng trước. Sau khi khỏi bệnh cần rửa sạch kính đeo mắt bằng xà phòng để tránh tái nhiễm.
- Không sử dụng một lọ thuốc tra mắt cho nhiều người.
- Không sử dụng nước muối tự pha để nhỏ mắt vì không đảm bảo vô trùng. Nồng độ muối và độ pH cũng không thích hợp với mắt. Ngoài ra nước muối tự pha còn thường có lẫn những tạp chất có hại cho mắt.
- Không vứt bừa bãi bông gạc sau khi sử dụng thấm rửa mắt.
- Thường xuyên giặt khăn mặt bằng xà phòng và phơi nắng.
- Các phòng khám cần vệ sinh tay và sát trùng dụng cụ đúng quy trình.
- Giữ vệ sinh môi trường, diệt ruồi.

Bs. Lê Việt Sơn

 

Để lại 1 phản hồi

Địa chỉ email của bạn sẽ không bị công khai. Lưu ý điền đầy đủ các mục đánh dấu *.

*